Gia đình năm 1960 ở Hà Nội

Gia đình năm 1960 ở Hà Nội
Gia đình chụp kỉ niệm ở Hiệu ảnh Quốc tế Bờ Hồ, Hà Nội, năm 1960. (Từ trái qua, hàng trước: Hữu Nghị, Thành Công, Kiến Quốc, Hạnh Phúc. Hàng sau: Kháng Chiến, Cha, Thắng Lợi, Yên Hồng và Mẹ bế Việt Trung).

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

NHỚ CẬU PHẠM VĂN PHU

Trần Văn Thản

Tiêu Động Thượng quê tôi có nhà thờ Thiên chúa giáo, xây dựng từ năm 1895. Cả thôn có bốn dòng họ Trần, Nguyễn, Lê, Phạm nhưng họ Phạm là lớn nhất. Đây là thôn công giáo toàn tòng. Tôi là cháu họ, gọi ông Phạm Văn Phu là cậu vì ông ngoại chúng tôi - cụ Phạm Văn Giai là anh của cụ Phạm Văn Cống (bố đẻ ra ông Phu). Mẹ chúng tôi - bà Phạm Thị Luộc là chị con bác ruột của ông Phu. Trong gia đình tôi, chị Trần Thị Óng sinh năm 1928, còn tôi là em út (sinh năm 1947).

TÔI ĐƯỢC ÔNG TRẦN TỬ BÌNH CỨU SỐNG

Dương Văn Khái[1] kể
Anh Thy ghi

Tôi sinh năm 1922 tại xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Khi còn nhỏ được gia đình cho đi học, đến khi kháng chiến bùng nổ thì theo Việt Minh đánh Tây. Năm 1953, trước khi kết thúc chiến tranh, tôi đã được tổ chức phân về công tác tại an toàn khu ở Nghệ An, làm bí thư chi bộ nông trường Bà Triệu[2] (đơn vị kinh tế của Đảng).

Tới thời kì chỉnh đốn sửa sai, năm 1956-1957, có lẽ vì có dính trí thức “tiểu tư sản” mà tôi bị “đội” quy là đảng viên Quốc dân đảng. Bị oan ức nhưng ngày đó dân ta có câu “nhất đội, nhì giời”, nên mọi sự thanh minh đều vô nghĩa. Tôi bị giam và chờ chết. 

ANH BÌNH TRONG THỜI KÌ SỬA SAI

Nguyễn Trung[1]

Chú Trung mắt không nhìn thấy gì nhưng kể như đọc từ sách.
            Quê hương tôi ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Gia đình tôi là gia đình điền chủ lớn. Sau năm 1940, phong trào cách mạng ở Phú Thọ được gây dựng lại do các anh Đào Duy Kỳ hoạt động ở Thanh Ba, Phù Ninh; anh Trần Tử Bình ở Cổ Tiết, Ba Triệu và anh Nguyễn Văn Thản, học sinh trường Bưởi, do bị lộ đã lánh về làm gia sư trong gia đình tôi và vận động anh em tôi theo cách mạng. Sau này còn một luồng cách mạng nữa là các anh Ngô Minh Loan, Bình Phương… vượt tù từ Nghĩa Lộ, Sơn La về.

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

THIẾU TƯỚNG CHÍNH UỶ VÀ VIỆC XÂY DỰNG KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc[1]

            Việc xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam là một quá trình lâu dài và gian khổ, từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh… Là một cựu học viên khóa 6 Trường Lục quân Việt Nam - nhà trường chính quy đầu tiên đào tạo cán bộ quân đội của Nhà nước Việt Nam non trẻ - tôi muốn ghi lại một kỷ niệm với Thiếu tướng Chính uỷ Trần Tử Bình trong việc góp phần xây dựng kỷ luật quân đội cách mạng.

NHỮNG NGÀY CÙNG CÔNG TÁC VỚI ANH TRẦN TỬ BÌNH


                                                                   Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Lê Chiêu
Anh Thy

Một chiều tháng 8 năm 2003, hai anh em tôi tìm đến nhà  Thiếu tướng Lê Chiêu. Ông sống ở Khu tập thể quân đội 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Bấm chuông hồi lâu mà không thấy ai ra mở cửa. Đánh liều đẩy cửa vào thì thấy phòng khách vắng bóng người; tận phòng trong, thấy một cụ già nằm trên giường. Hai anh em chào to:
- Chào chú Lê Chiêu.
- Ai đấy? – Ông hỏi.
- Chúng cháu là con bố Trần Tử Bình, lại thăm chú đây.
- Thế à? – Ông mệt mỏi mở mắt và cố gượng dậy.
Câu chuyện giữa chúng tôi được bắt đầu... Khi gợi lại chuyện cũ, trí nhớ của ông dần được hồi phục. Ông chậm rãi kể lại…

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Tháng 8 – Nhớ về Cha (Trần Đình Ngân)

CHA -  Người lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền
                             đạn đã lên nòng nhưng súng không cần nổ                          
                                                          cả máu cũng một giọt không giỏ,
CHA  - Người lính trận, Tổng Thanh tra
                                      Người quyết giữ mọi sự công bằng                           
CHA – Một vị tướng lĩnh, một nhà ngoại giao
                                      Người vun đắp cho cây Hữu nghị, Hoà bình
Tháng Tám, bên bàn thờ Mẹ Cha,
                                       con cháu quây quần
                                                          dâng nước trắng và hoa…

Chú Đỗ Trình với kỉ niệm về cha


TRƯỜNG LỤC QUÂN VIỆT NAM VỚI CHÍNH UỶ TRẦN TỬ BÌNH

Trung tướng Đỗ Trình[1]



Chú Đỗ Trình đọc tham luận.
            Tôi cùng sống và công tác với anh Trần Tử Bình trong khoảng 5 năm, từ năm 1950 đến 1955, ở Trường Lục quân Việt Nam, từ khóa 5 đến khóa 9. Lúc đó, anh Trần Tử Bình là Chính uỷ, bí thư Đảng uỷ, còn tôi là đảng uỷ viên, Chủ nhiệm Huấn luyện nhà trường.

Trong công tác và sinh hoạt, anh Trần Tử Bình có nhiều phẩm chất nổi bật. Trước hết, đó là tinh thần đoàn kết, hợp tác: đoàn kết trong nội bộ Đảng uỷ, đoàn kết giữa lãnh đạo và cán bộ cấp dưới, đặc biệt là đoàn kết giữa các đồng chí Việt Nam với các cố vấn Trung Quốc. Thời gian đó, Trường Lục quân Việt Nam đóng quân ở Trung Quốc, lúc đầu ở Côn Minh (Vân Nam), sau về Quế Lâm (Quảng Tây). Trong trường, ở cơ quan Hiệu bộ và các tiểu đoàn học viên đều có cố vấn Trung Quốc. Chính sự chăm lo, tăng cường đoàn kết của đồng chí chính uỷ và của Đảng uỷ với các đồng chí cố vấn đã động viên họ tích cực, hết lòng truyền đạt kinh nghiệm và kiến thức cho các đồng chí Việt Nam.

Tấm ảnh chụp tại Đại hội 2

CHUYỆN VỀ TẤM ẢNH KỶ NIỆM CHỤP TẠI
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ II[1]

           Kháng Chiến – Kiến Quốc



Trong một dịp trở ra Hà Nội, chúng tôi được Bùi Việt Sơn (con trai lão đồng chí Bùi Lâm) tặng một tấm ảnh quý với chú thích phía sau: “Tặng anh tấm ảnh của các cụ nhà mình gặp lại nhau trong Đại hội II, tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đầu năm 1951”. Chúng tôi bồi hồi tưởng nhớ tới từng người trong bức ảnh...

Từ bên trái qua, người mặc áo trắng, đầu đội mũ nồi, đứng đầu là cha chúng tôi – ông Trần Tử Bình. Trong Đại hội này, ông là đại biểu quân đội. Đứng cạnh ông là đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, quê ở Nam Lợi, huyện Nam Trực, Nam Định. Những năm kháng chiến chống Pháp, đồng chí từng là Chính uỷ Khu 8. Trong Đại hội, đồng chí là đại biểu Nam Bộ, sau này là trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Trung ương.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Bức ảnh tư liệu quý

Đầu năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, Hồ Chủ tịch đã kí quyết định tấn phong 1 đại tướng, 1 trung tướng và 9 thiếu tướng. Sau đó Người kí rải rác 1 số quyết định. Đến năm 1958 khi xây dựng QĐ lên chính quy hiện đại, Bác lại kí quyết định phong nhiều tướng lĩnh.
Tại Phủ Chủ tịch, các tướng lĩnh cũ và mới cùng các cán bộ cấp Cục (đại tá) đã ra mắt Trung ương Đảng và Chính phủ. Đây là ảnh tư liệu quý về hôm đó.

Khi đó ông Nguyễn Chí Thanh (đứnh cạnh Bác) vẫn chưa được phong đại tướng.
Hàng thứ 2, từ trái: Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng, Thiếu tướng Trần Tử Bình...
(Các tướng lĩnh cũ - mặc quân phục sẫm; các tướng lĩnh mới - quân phục sáng).

Chuyến thăm quê Bác Hồ của Đại sứ Trung Quốc La Quý Ba

Chuyến thăm quê Bác Hồ của Đại sứ Trung Quốc La Quý Ba

Kiến Quốc - Duy Hiển (091.3542366)

Lễ trình Quốc thư tại Chiến khu Việt Bắc, 1/9/1954.
Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập (1-10-1949), ngày 5-12-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng tới Chủ tịch Mao Trạch Đông, với nội dung: “Hai dân tộc Việt - Hoa có mối quan hệ anh em trải mấy nghìn năm lịch sử. Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ càng mật thiết để phát triển tự do và hạnh phúc của hai dân tộc ta, và để bảo vệ dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài”. Ngày 15-1-1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố công nhận CHND Trung Hoa và ngày 18-1-1950, CHND Trung Hoa công nhận Việt Nam DCCH. Sự kiện này đã chấm dứt thế bao vây, cô lập với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam; ngày 18-1-1950 được coi là “Ngày thắng lợi ngoại giao” của Việt Nam.

GẶP LẠI NHAU TRONG ĐẠI HỘI ĐẢNG II

Ghi theo hồi ức của đồng chí Hoàng Quốc Việt
            Trần Kiến Quốc

Ba người bạn chí cốt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Trong thời gian Đại hội, có nhiều cuộc gặp mặt cảm động của những người bạn chiến đấu trong thời kì bí mật.
Xin trân trọng giới thiệu tấm ảnh kỷ niệm, chụp trước tượng đài Tổ quốc ghi công tại Đại hội II, của ba lão đồng chí Phan Trọng Tuệ, Hoàng Quốc Việt và Trần Tử Bình.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt tên thật là Hạ Bá Cang sinh năm 1902 tại Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh, trong một gia đình làm thợ. Khi đang học trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng, đồng chí đã tham gia hoạt động. Bị đuổi học, đồng chí về hoạt động ở mỏ than Phấn Mễ (Thái Nguyên), mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh) rồi về Hải Phòng. Năm 1928, tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và được cử vào Nam Kỳ. Đầu năm 1930, trên đường ra Bắc dự hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thì đồng chí bị bắt. Kẻ địch tra tấn đồng chí đến què chân, kết án chung thân và đày biệt xứ ra Côn Đảo. Trong hội nghị hợp nhất, tuy vắng mặt nhưng vì uy tín cao nên đồng chí Hoàng Quốc Việt vẫn được bầu vào Trung ương. Năm 1936, mãn hạn tù, đồng chí về hoạt động ở Hà Nội. Tuy chân đi khập khiễng nhưng đồng chí thoắt ẩn thoắt hiện, kẻ địch không tài nào bắt được nên giặc Pháp gọi đồng chí là Cang “thọt”.

Bài cuối cùng trong loạt 6 bài về vụ án Trần Dụ Châu, đăng trên báo Cứu Quốc.

NHÂN VỤ ÁN TRẦN DỤ CHÂU

Xã luận báo Cứu Quốc ngày 27 tháng 9 năm 1950
Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y.

Vụ án Trần Dụ Châu (Nhà báo Hồng Hà)

VỤ ÁN ĐẠI TÁ TRẦN DỤ CHÂU
Nhân kỉ niệm 60 năm ngày truyền thống Công an Nhân dân, 19-8-2005, vụ án Trần Dụ Châu - một vụ chống tham nhũng thời kháng chiến chống Pháp - được nhà báo Hồng Hà kể lại trong bài “55 năm nhìn lại vụ án Trần Dụ Châu”. Vụ án này được chính ông viết trong loạt bài phóng sự điều tra đăng 6 kì, từ ngày 20-9-1950, trên báo Cứu Quốc – cơ quan tuyên truyền, cổ động của Trung ương Mặt trận Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, xuất bản hàng ngày.
Nhà báo Hồng Hà, nguyên Tổng biên tập Báo Nhân Dân. 


Từ một viên thư kí toà sứ  Pháp
 Mùa hè 1950, từ mặt trận đồng bằng sông Hồng, tôi trở về toà soạn báo Cứu Quốc. Cơ quan báo vừa dọn về  xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc di chuyển mới này báo hiệu ta hoặc địch sắp có hoạt động quân sự lớn. Anh Xuân Thuỷ, Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, giao ngay cho tôi đi lấy tài liệu viết về một vụ tham ô lớn. Đấy là vụ án Trần Dụ Châu, đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu, đang ở giai đoạn điều tra, lấy lời khai.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Kỷ niệm của anh Trần Quân Ngọc với cha mẹ

Tp Hồ Chí Minh, 19/4/2008

Chiến và Quốc quý mến,
Cảm ơn Chiến và Quốc đã gửi tặng mình cuốn "Trần Tử Bình - từ Phú Riềng Đỏ đến mùa Thu Hà Nội..."! Cuốn sách đầy đặn và nhiều tư liệu quý. Mình mới đọc lướt qua đã thấy thú vị. Sau khi hiệu đính xong cuốn "Những người bạn quốc tế của Bác Hồ" để chuẩn bị tái bản, mình sẽ đọc kĩ lại cuốn sách này, chắc chắn sẽ tìm được nhiều điều thú vị và bổ ích hơn.
Mình có may mắn là trong cuộc đời đã được biết, tiếp xúc với cả chú Bình và cô Hưng, từ đầu năm 1947 ở Hưng Hóa, Phú Thọ, rồi sau này ở Thái Nguyên, ATK và cả ở Trung Quốc nữa.

Những bức ảnh gia đình cô Lưu, chú Dương với cha

Cùng cô chú và 2 em Xiao Lu, Xiao Fang ở vườn Sứ quán.
Xếp lại loạt ảnh tư liệu của gia đình, tìm thấy nhiều ảnh khi cô chú đi phiên dịch cho cha ở Bắc Kinh.
Chú Dương là Việt kiều, cô Lưu là người Hoa lại được tin dùng trong Sứ quán - hẳn có người không ưa. Nhưng cha, với quan điểm cần người có đức, có tài để phụng sự Tổ quốc, đã bảo vệ cô chú và coi cô chú như em út trong nhà. Buồn, vui chia sẻ, nhất là khi cha phải sống xa gia đình, vợ con.



Hai tấm ảnh này được coi như món quà đánh dấu sự kiện bắt liên lạc lại được với các em trong gia đình cô chú.
Cùng Đại sứ.