Tiêu
Động Thượng quê tôi có nhà thờ Thiên chúa giáo, xây dựng từ năm 1895. Cả thôn
có bốn dòng họ Trần, Nguyễn, Lê, Phạm nhưng họ Phạm là lớn nhất. Đây là thôn
công giáo toàn tòng. Tôi là cháu họ, gọi ông Phạm Văn Phu là cậu vì ông ngoại
chúng tôi - cụ Phạm Văn Giai là anh của cụ Phạm Văn Cống (bố đẻ ra ông Phu). Mẹ
chúng tôi - bà Phạm Thị Luộc là chị con bác ruột của ông Phu. Trong gia đình
tôi, chị Trần Thị Óng sinh năm 1928, còn tôi là em út (sinh năm 1947).
Nơi lưu giữ những kỉ niệm của ông bà, cha mẹ, tới thế hệ con, cháu... và của từng gia đình nhỏ; Nơi trao đổi tâm tư, tình cảm, gìn giữ nề nếp, gia phong, truyền thống tốt đẹp của cha mẹ, gia đình.
Gia đình năm 1960 ở Hà Nội
Gia đình chụp kỉ niệm ở Hiệu ảnh Quốc tế Bờ Hồ, Hà Nội, năm 1960. (Từ trái qua, hàng trước: Hữu Nghị, Thành Công, Kiến Quốc, Hạnh Phúc. Hàng sau: Kháng Chiến, Cha, Thắng Lợi, Yên Hồng và Mẹ bế Việt Trung).
Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012
TÔI ĐƯỢC ÔNG TRẦN TỬ BÌNH CỨU SỐNG
Dương Văn Khái[1] kể
Anh Thy ghi
Tôi
sinh năm 1922 tại xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Khi còn nhỏ được
gia đình cho đi học, đến khi kháng chiến bùng nổ thì theo Việt Minh đánh Tây.
Năm 1953, trước khi kết thúc chiến tranh, tôi đã được tổ chức phân về công tác
tại an toàn khu ở Nghệ An, làm bí thư chi bộ nông trường Bà Triệu[2] (đơn
vị kinh tế của Đảng).
Tới thời kì chỉnh đốn sửa sai, năm 1956-1957, có lẽ vì có dính trí thức “tiểu tư sản” mà tôi bị “đội” quy là đảng viên Quốc dân đảng. Bị oan ức nhưng ngày đó dân ta có câu “nhất đội, nhì giời”, nên mọi sự thanh minh đều vô nghĩa. Tôi bị giam và chờ chết.
Tới thời kì chỉnh đốn sửa sai, năm 1956-1957, có lẽ vì có dính trí thức “tiểu tư sản” mà tôi bị “đội” quy là đảng viên Quốc dân đảng. Bị oan ức nhưng ngày đó dân ta có câu “nhất đội, nhì giời”, nên mọi sự thanh minh đều vô nghĩa. Tôi bị giam và chờ chết.
ANH BÌNH TRONG THỜI KÌ SỬA SAI
Nguyễn Trung[1]
| Chú Trung mắt không nhìn thấy gì nhưng kể như đọc từ sách. |
Quê
hương tôi ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Gia đình tôi là gia đình
điền chủ lớn. Sau năm 1940, phong trào cách mạng ở Phú Thọ được gây dựng lại do
các anh Đào Duy Kỳ hoạt động ở Thanh Ba, Phù Ninh; anh Trần Tử Bình ở Cổ Tiết,
Ba Triệu và anh Nguyễn Văn Thản, học sinh trường Bưởi, do bị lộ đã lánh về làm
gia sư trong gia đình tôi và vận động anh em tôi theo cách mạng. Sau này còn
một luồng cách mạng nữa là các anh Ngô Minh Loan, Bình Phương… vượt tù từ Nghĩa
Lộ, Sơn La về.
Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012
THIẾU TƯỚNG CHÍNH UỶ VÀ VIỆC XÂY DỰNG KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI
Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc[1]
Việc
xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam là một quá trình lâu dài và gian khổ, từ
không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh… Là một cựu học viên khóa 6 Trường
Lục quân Việt Nam - nhà trường chính quy đầu tiên đào tạo cán bộ quân đội của
Nhà nước Việt Nam non trẻ - tôi muốn ghi lại một kỷ niệm với Thiếu tướng Chính
uỷ Trần Tử Bình trong việc góp phần xây dựng kỷ luật quân đội cách mạng.
NHỮNG NGÀY CÙNG CÔNG TÁC VỚI ANH TRẦN TỬ BÌNH
Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Lê
Chiêu
Anh Thy
Một
chiều tháng 8 năm 2003, hai anh em tôi tìm đến nhà Thiếu tướng Lê Chiêu. Ông sống ở Khu tập thể
quân đội 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Bấm chuông hồi lâu mà không thấy ai ra mở cửa.
Đánh liều đẩy cửa vào thì thấy phòng khách vắng bóng người; tận phòng trong,
thấy một cụ già nằm trên giường. Hai anh em chào to:
-
Chào chú Lê Chiêu. - Ai đấy? – Ông hỏi.
- Chúng cháu là con bố Trần Tử Bình, lại thăm chú đây.
- Thế à? – Ông mệt mỏi mở mắt và cố gượng dậy.
Câu chuyện giữa chúng tôi được bắt đầu... Khi gợi lại chuyện cũ, trí nhớ của ông dần được hồi phục. Ông chậm rãi kể lại…
Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012
Tháng 8 – Nhớ về Cha (Trần Đình Ngân)
CHA - Người lãnh đạo khởi
nghĩa giành chính quyền
đạn đã lên nòng nhưng súng không cần nổ
cả máu cũng một giọt không giỏ,
CHA - Người lính trận, Tổng Thanh tra
Người quyết giữ mọi sự công bằng
CHA – Một vị tướng lĩnh, một nhà ngoại giao
Người vun đắp cho cây Hữu nghị, Hoà bình
Tháng Tám, bên bàn thờ Mẹ Cha,
con cháu quây quần
dâng nước trắng và hoa…
đạn đã lên nòng nhưng súng không cần nổ
cả máu cũng một giọt không giỏ,
CHA - Người lính trận, Tổng Thanh tra
Người quyết giữ mọi sự công bằng
CHA – Một vị tướng lĩnh, một nhà ngoại giao
Người vun đắp cho cây Hữu nghị, Hoà bình
Tháng Tám, bên bàn thờ Mẹ Cha,
con cháu quây quần
dâng nước trắng và hoa…
Chú Đỗ Trình với kỉ niệm về cha
TRƯỜNG LỤC QUÂN VIỆT NAM VỚI CHÍNH UỶ TRẦN TỬ BÌNH
Trung tướng Đỗ Trình[1]
| Chú Đỗ Trình đọc tham luận. |
Tôi
cùng sống và công tác với anh Trần Tử Bình trong khoảng 5 năm, từ năm 1950 đến
1955, ở Trường Lục quân Việt Nam, từ khóa 5 đến khóa 9. Lúc đó, anh Trần Tử
Bình là Chính uỷ, bí thư Đảng uỷ, còn tôi là đảng uỷ viên, Chủ nhiệm Huấn luyện
nhà trường.
Trong
công tác và sinh hoạt, anh Trần Tử Bình có nhiều phẩm chất nổi bật. Trước hết,
đó là tinh thần đoàn kết, hợp tác: đoàn kết trong nội bộ Đảng uỷ, đoàn kết giữa
lãnh đạo và cán bộ cấp dưới, đặc biệt là đoàn kết giữa các đồng chí Việt Nam
với các cố vấn Trung Quốc. Thời gian đó, Trường Lục quân Việt Nam đóng quân ở
Trung Quốc, lúc đầu ở Côn Minh (Vân Nam), sau về Quế Lâm (Quảng Tây). Trong
trường, ở cơ quan Hiệu bộ và các tiểu đoàn học viên đều có cố vấn Trung Quốc.
Chính sự chăm lo, tăng cường đoàn kết của đồng chí chính uỷ và của Đảng uỷ với
các đồng chí cố vấn đã động viên họ tích cực, hết lòng truyền đạt kinh nghiệm
và kiến thức cho các đồng chí Việt Nam.
Tấm ảnh chụp tại Đại hội 2
CHUYỆN VỀ TẤM ẢNH KỶ NIỆM CHỤP TẠI
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ II[1]
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ II[1]
Kháng Chiến
– Kiến Quốc
Trong
một dịp trở ra Hà Nội, chúng tôi được Bùi Việt Sơn (con trai lão đồng chí Bùi
Lâm) tặng một tấm ảnh quý với chú thích phía sau: “Tặng anh tấm ảnh của các cụ
nhà mình gặp lại nhau trong Đại hội II, tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đầu năm
1951”. Chúng tôi bồi hồi tưởng nhớ tới từng người trong bức ảnh...
Từ
bên trái qua, người mặc áo trắng, đầu đội mũ nồi, đứng đầu là cha chúng tôi –
ông Trần Tử Bình. Trong Đại hội này, ông là đại biểu quân đội. Đứng cạnh ông là
đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, quê ở Nam Lợi, huyện Nam Trực, Nam Định. Những năm
kháng chiến chống Pháp, đồng chí từng là Chính uỷ Khu 8. Trong Đại hội, đồng
chí là đại biểu Nam Bộ, sau này là trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Chủ
nhiệm Uỷ ban Thống nhất Trung ương.
Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012
Bức ảnh tư liệu quý
Đầu năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, Hồ Chủ tịch đã kí quyết định tấn phong 1 đại tướng, 1 trung tướng và 9 thiếu tướng. Sau đó Người kí rải rác 1 số quyết định. Đến năm 1958 khi xây dựng QĐ lên chính quy hiện đại, Bác lại kí quyết định phong nhiều tướng lĩnh.
Tại Phủ Chủ tịch, các tướng lĩnh cũ và mới cùng các cán bộ cấp Cục (đại tá) đã ra mắt Trung ương Đảng và Chính phủ. Đây là ảnh tư liệu quý về hôm đó.
Khi đó ông Nguyễn Chí Thanh (đứnh cạnh Bác) vẫn chưa được phong đại tướng.
Hàng thứ 2, từ trái: Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng, Thiếu tướng Trần Tử Bình...
(Các tướng lĩnh cũ - mặc quân phục sẫm; các tướng lĩnh mới - quân phục sáng).
Tại Phủ Chủ tịch, các tướng lĩnh cũ và mới cùng các cán bộ cấp Cục (đại tá) đã ra mắt Trung ương Đảng và Chính phủ. Đây là ảnh tư liệu quý về hôm đó.
Khi đó ông Nguyễn Chí Thanh (đứnh cạnh Bác) vẫn chưa được phong đại tướng.
Hàng thứ 2, từ trái: Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng, Thiếu tướng Trần Tử Bình...
(Các tướng lĩnh cũ - mặc quân phục sẫm; các tướng lĩnh mới - quân phục sáng).
Chuyến thăm quê Bác Hồ của Đại sứ Trung Quốc La Quý Ba
Chuyến thăm quê Bác Hồ của Đại sứ Trung
Quốc La Quý Ba
Kiến
Quốc - Duy Hiển (091.3542366)
| Lễ trình Quốc thư tại Chiến khu Việt Bắc, 1/9/1954. |
GẶP LẠI NHAU TRONG ĐẠI HỘI ĐẢNG II
Ghi theo hồi ức của đồng chí Hoàng Quốc Việt
Trần Kiến Quốc
Trần Kiến Quốc
| Ba người bạn chí cốt. |
Xin trân trọng giới thiệu tấm ảnh kỷ niệm, chụp trước tượng đài Tổ quốc ghi công tại Đại hội II, của ba lão đồng chí Phan Trọng Tuệ, Hoàng Quốc Việt và Trần Tử Bình.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt tên thật là Hạ Bá Cang sinh năm 1902 tại Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh, trong một gia đình làm thợ. Khi đang học trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng, đồng chí đã tham gia hoạt động. Bị đuổi học, đồng chí về hoạt động ở mỏ than Phấn Mễ (Thái Nguyên), mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh) rồi về Hải Phòng. Năm 1928, tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và được cử vào Nam Kỳ. Đầu năm 1930, trên đường ra Bắc dự hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thì đồng chí bị bắt. Kẻ địch tra tấn đồng chí đến què chân, kết án chung thân và đày biệt xứ ra Côn Đảo. Trong hội nghị hợp nhất, tuy vắng mặt nhưng vì uy tín cao nên đồng chí Hoàng Quốc Việt vẫn được bầu vào Trung ương. Năm 1936, mãn hạn tù, đồng chí về hoạt động ở Hà Nội. Tuy chân đi khập khiễng nhưng đồng chí thoắt ẩn thoắt hiện, kẻ địch không tài nào bắt được nên giặc Pháp gọi đồng chí là Cang “thọt”.
Bài cuối cùng trong loạt 6 bài về vụ án Trần Dụ Châu, đăng trên báo Cứu Quốc.
NHÂN VỤ ÁN TRẦN DỤ CHÂU
Xã luận báo Cứu Quốc ngày 27 tháng 9 năm 1950
Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y.
Xã luận báo Cứu Quốc ngày 27 tháng 9 năm 1950
Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y.
Vụ án Trần Dụ Châu (Nhà báo Hồng Hà)
VỤ ÁN ĐẠI TÁ TRẦN DỤ CHÂU
Nhân kỉ niệm 60 năm ngày truyền thống Công an Nhân dân, 19-8-2005, vụ án Trần Dụ Châu - một vụ chống tham nhũng thời kháng chiến chống Pháp - được nhà báo Hồng Hà kể lại trong bài “55 năm nhìn lại vụ án Trần Dụ Châu”. Vụ án này được chính ông viết trong loạt bài phóng sự điều tra đăng 6 kì, từ ngày 20-9-1950, trên báo Cứu Quốc – cơ quan tuyên truyền, cổ động của Trung ương Mặt trận Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, xuất bản hàng ngày.
Nhà báo Hồng Hà, nguyên Tổng biên tập Báo Nhân Dân.
Từ một viên thư kí toà sứ Pháp
Mùa hè 1950, từ mặt trận đồng bằng sông Hồng, tôi trở về toà soạn báo Cứu Quốc. Cơ quan báo vừa dọn về xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc di chuyển mới này báo hiệu ta hoặc địch sắp có hoạt động quân sự lớn. Anh Xuân Thuỷ, Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, giao ngay cho tôi đi lấy tài liệu viết về một vụ tham ô lớn. Đấy là vụ án Trần Dụ Châu, đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu, đang ở giai đoạn điều tra, lấy lời khai.
Nhân kỉ niệm 60 năm ngày truyền thống Công an Nhân dân, 19-8-2005, vụ án Trần Dụ Châu - một vụ chống tham nhũng thời kháng chiến chống Pháp - được nhà báo Hồng Hà kể lại trong bài “55 năm nhìn lại vụ án Trần Dụ Châu”. Vụ án này được chính ông viết trong loạt bài phóng sự điều tra đăng 6 kì, từ ngày 20-9-1950, trên báo Cứu Quốc – cơ quan tuyên truyền, cổ động của Trung ương Mặt trận Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, xuất bản hàng ngày.
Nhà báo Hồng Hà, nguyên Tổng biên tập Báo Nhân Dân.
Từ một viên thư kí toà sứ Pháp
Mùa hè 1950, từ mặt trận đồng bằng sông Hồng, tôi trở về toà soạn báo Cứu Quốc. Cơ quan báo vừa dọn về xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc di chuyển mới này báo hiệu ta hoặc địch sắp có hoạt động quân sự lớn. Anh Xuân Thuỷ, Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, giao ngay cho tôi đi lấy tài liệu viết về một vụ tham ô lớn. Đấy là vụ án Trần Dụ Châu, đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu, đang ở giai đoạn điều tra, lấy lời khai.
Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012
Kỷ niệm của anh Trần Quân Ngọc với cha mẹ
Tp Hồ Chí Minh, 19/4/2008
Cảm ơn Chiến và Quốc đã gửi tặng mình cuốn "Trần Tử Bình - từ Phú Riềng Đỏ đến mùa Thu Hà Nội..."! Cuốn sách đầy đặn và nhiều tư liệu quý. Mình mới đọc lướt qua đã thấy thú vị. Sau khi hiệu đính xong cuốn "Những người bạn quốc tế của Bác Hồ" để chuẩn bị tái bản, mình sẽ đọc kĩ lại cuốn sách này, chắc chắn sẽ tìm được nhiều điều thú vị và bổ ích hơn.
Mình có may mắn là trong cuộc đời đã được biết, tiếp xúc với cả chú Bình và cô Hưng, từ đầu năm 1947 ở Hưng Hóa, Phú Thọ, rồi sau này ở Thái Nguyên, ATK và cả ở Trung Quốc nữa.
Những bức ảnh gia đình cô Lưu, chú Dương với cha
| Cùng cô chú và 2 em Xiao Lu, Xiao Fang ở vườn Sứ quán. |
Chú Dương là Việt kiều, cô Lưu là người Hoa lại được tin dùng trong Sứ quán - hẳn có người không ưa. Nhưng cha, với quan điểm cần người có đức, có tài để phụng sự Tổ quốc, đã bảo vệ cô chú và coi cô chú như em út trong nhà. Buồn, vui chia sẻ, nhất là khi cha phải sống xa gia đình, vợ con.
Hai tấm ảnh này được coi như món quà đánh dấu sự kiện bắt liên lạc lại được với các em trong gia đình cô chú.
| Cùng Đại sứ. |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
