Gia đình năm 1960 ở Hà Nội

Gia đình năm 1960 ở Hà Nội
Gia đình chụp kỉ niệm ở Hiệu ảnh Quốc tế Bờ Hồ, Hà Nội, năm 1960. (Từ trái qua, hàng trước: Hữu Nghị, Thành Công, Kiến Quốc, Hạnh Phúc. Hàng sau: Kháng Chiến, Cha, Thắng Lợi, Yên Hồng và Mẹ bế Việt Trung).

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

KỶ NIỆM VỀ MỘT VỊ TƯỚNG LÀM NGOẠI GIAO

Vũ Thuần[1]

Bài viết này, tôi muốn nói về đồng chí Trần Tử Bình, nguyên uỷ viên Trung ương Đảng, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, được Bác Hồ tiến cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, từ tháng 4 năm 1959 đến tháng 2 năm 1967.
Đ/c Vũ Thuần (phải) cùng nhà báo Sĩ Ấn.
 

Vị Trưởng Đoàn Ngoại giao

Đồng chí Trần Tử Bình đảm đương nhiệm vụ Đại sứ ròng rã 8 năm trời. (Mà nhiệm kì thông thường của một đại sứ, ở một địa bàn, chỉ từ 3 đến 4 năm). Là người trình Quốc thư sớm nhất trong số 241 đại sứ đương nhiệm nên từ năm 1963, đồng chí mặc nhiên trở thành Trưởng Đoàn Ngoại giao (Doyen of Diplomatic Corps). Trên cương vị này, trong tất cả các hoạt động của Đoàn Ngoại giao, Đại sứ Trần Tử Bình là người đại diện duy nhất và hợp pháp. Đương nhiên bao giờ đồng chí cũng được mời ngồi vị trí trang trọng nhất của Chủ tịch đoàn trong các hội nghị quốc tế, được thay mặt Đoàn Ngoại giao phát biểu ý kiến, được đứng ra triệu tập các cuộc họp bàn về các vấn đề hữu quan của Đoàn Ngoại giao… 

LỄ TRÌNH QUỐC THƯ CÓ MỘT KHÔNG HAI[1]

Đại tá Đoàn Sự[2] kể
Kiến Quốc ghi

Mao Chủ tịch (áo sáng) tiếp Đại sứ đêm trình Quốc thư, 15/4/1959.
Những năm cuối của thập kỷ 1950, Chủ tịch Mao Trạch Đông có thói quen ngủ vào ban ngày và thức trắng đêm để làm việc. Các công việc mang tính chất ngoại giao, hành chính không còn phù hợp với tác phong làm việc của ông. Trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã chuẩn bị để đồng chí Lưu Thiếu Kỳ thay thế ông điều hành đất nước, còn ông chuyển sang làm công tác Đảng.

Thời gian này, đồng chí Nguyễn Khang là Đại sứ của ta tại Bắc Kinh từ năm 1957 đã sắp mãn hạn và cần người thay thế. Đồng chí La Quý Ba - nguyên thứ trưởng Ngoại giao, người đã “đồng cam cộng khổ” với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc - đã đề đạt ý kiến của phía Bạn đề nghị ta cử đồng chí Trần Tử Bình - một tướng lĩnh đã có kinh nghiệm trong công tác đối ngoại với Trung Quốc - sang làm Đại sứ thay đồng chí Nguyễn Khang. Hồ Chủ tịch và Trung ương sau khi xem xét đã nhất trí cử đồng chí Trần Tử Bình sang Trung Quốc.


Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Cụ Nguyễn Huy Hòa kể về "cuộc vượt ngục đại quy mô" ở Hỏa Lò 1945

Mời vào QĐND!

Ý kiến của ông Võ Văn Kiệt về việc xuất bản "Chuyện Tướng Độ"

Chú Trần Độ và ông Kiệt có quan hệ thân tình từ những năm ở chiến trường. 5 năm sau ngày mất của chú Độ (2002-2007), nhà văn Võ Bá Cường viết xong cuốn sách này và đi vận động 1 số cán bộ cao cấp ủng hộ việc Nxb Quân đội phát hành tác phẩm này. Ông Kiệt cũng là 1 địa chỉ. Và ông đã trả lời:

Bức thư gửi Trường PTTH Quang Trung, Đồng Xoài


 Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 3 năm 2007


Kính gửi: Thầy Hiệu trưởng Trường PTTH chuyên Quang Trung,

Thay mặt gia đình Thiếu tướng Trần Tử Bình, nguyên Bí thư chi bộ Phú Riềng Đỏ năm 1930, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nước Việt Nam DCCH tại Nước CHND Trung Hoa (1959-1967), xin gửi lời chào trân trọng đến thầy Hiệu trưởng và tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh nhà trường!

Ghi chép (KQ)


Chủ nhật 29/10/2006. Về Ãn Thi, Hưng Yên, rủ Nam Hòa và Giang “mù” cùng đi. Đang triển khai việc xây dựng nhà trẻ mang tên cha tại Phúc Tá. Sau đó ra thăm ngôi chùa vừa được xây lại có sự đóng góp của gia đình. Hai em Trung, Minh đã góp mấy ngàn viên gạch lát bậc tam cấp cho chùa chính. Trưa ăn cơm với mấy em con bà cô.

Chiều về đến thăm chú Vũ Thơ. Cô chú rất mừng khi cầm cuốn sách trên tay. Chú kể lại một câu chuyện cảm động:
... Quãng năm 1956-1957. Đang lang thang trên đường Bông Ruộm thì chú gặp một anh bạn từng là cán bộ cấp trung đoàn thời kháng Pháp. Trông anh ta tiều tuỵ, thần sắc bạc nhược. Hỏi ra thì biết gia đình bị “đội” quy là địa chủ. Rất biết anh ta, chú đã nói: “Được rồi, tớ sẽ giúp cậu. Tổng Thanh tra Trần Tử Bình là thủ trưởng của tớ từ ngày hoạt động bí mật ở Ninh Bình. Để tới nói với ông ấy”. Rồi hai anh em chia tay. Nhìn theo cái bóng không hồn của bạn mà không cầm được nước mắt.
Ngay chiều hôm ấy, chú đến tìm cha cháu. Vừa bắt tay ông, chú đã lớn tiếng:
-    Các anh làm thanh tra mà chả ra cái quái gì cả. Dân bị khổ, cán bộ bị oan sai mà anh có biết không?
-    Cái thằng này hay thật, mới gặp đã mắng sa sả! – Cha cháu từ tốn nói - Có chuyện gì nói rõ xem nào?
Rồi chú kể hết về anh bạn bị oan trái. Nghe xong cha cháu nói:
-    Bảo cậu ấy làm cái đơn gửi ngay Thanh tra Chính phủ, trình bày rõ sự việc. Nhớ là phải có xác nhận của đơn vị.
Ba tháng sau khi gửi Thanh tra đơn khiếu nại, chú gặp lại anh bạn. Anh vui vẻ báo tin: “Đâu vào đấy cả rồi. Tổ chức đã xác minh và minh oan cho tớ. Tớ lại về đơn vị cũ làm việc.”
Cha cháu là con người như thế đấy!
 

NHỚ CẬU PHẠM VĂN PHU

Trần Văn Thản

Tiêu Động Thượng quê tôi có nhà thờ Thiên chúa giáo, xây dựng từ năm 1895. Cả thôn có bốn dòng họ Trần, Nguyễn, Lê, Phạm nhưng họ Phạm là lớn nhất. Đây là thôn công giáo toàn tòng. Tôi là cháu họ, gọi ông Phạm Văn Phu là cậu vì ông ngoại chúng tôi - cụ Phạm Văn Giai là anh của cụ Phạm Văn Cống (bố đẻ ra ông Phu). Mẹ chúng tôi - bà Phạm Thị Luộc là chị con bác ruột của ông Phu. Trong gia đình tôi, chị Trần Thị Óng sinh năm 1928, còn tôi là em út (sinh năm 1947).

TÔI ĐƯỢC ÔNG TRẦN TỬ BÌNH CỨU SỐNG

Dương Văn Khái[1] kể
Anh Thy ghi

Tôi sinh năm 1922 tại xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Khi còn nhỏ được gia đình cho đi học, đến khi kháng chiến bùng nổ thì theo Việt Minh đánh Tây. Năm 1953, trước khi kết thúc chiến tranh, tôi đã được tổ chức phân về công tác tại an toàn khu ở Nghệ An, làm bí thư chi bộ nông trường Bà Triệu[2] (đơn vị kinh tế của Đảng).

Tới thời kì chỉnh đốn sửa sai, năm 1956-1957, có lẽ vì có dính trí thức “tiểu tư sản” mà tôi bị “đội” quy là đảng viên Quốc dân đảng. Bị oan ức nhưng ngày đó dân ta có câu “nhất đội, nhì giời”, nên mọi sự thanh minh đều vô nghĩa. Tôi bị giam và chờ chết. 

ANH BÌNH TRONG THỜI KÌ SỬA SAI

Nguyễn Trung[1]

Chú Trung mắt không nhìn thấy gì nhưng kể như đọc từ sách.
            Quê hương tôi ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Gia đình tôi là gia đình điền chủ lớn. Sau năm 1940, phong trào cách mạng ở Phú Thọ được gây dựng lại do các anh Đào Duy Kỳ hoạt động ở Thanh Ba, Phù Ninh; anh Trần Tử Bình ở Cổ Tiết, Ba Triệu và anh Nguyễn Văn Thản, học sinh trường Bưởi, do bị lộ đã lánh về làm gia sư trong gia đình tôi và vận động anh em tôi theo cách mạng. Sau này còn một luồng cách mạng nữa là các anh Ngô Minh Loan, Bình Phương… vượt tù từ Nghĩa Lộ, Sơn La về.

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

THIẾU TƯỚNG CHÍNH UỶ VÀ VIỆC XÂY DỰNG KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc[1]

            Việc xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam là một quá trình lâu dài và gian khổ, từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh… Là một cựu học viên khóa 6 Trường Lục quân Việt Nam - nhà trường chính quy đầu tiên đào tạo cán bộ quân đội của Nhà nước Việt Nam non trẻ - tôi muốn ghi lại một kỷ niệm với Thiếu tướng Chính uỷ Trần Tử Bình trong việc góp phần xây dựng kỷ luật quân đội cách mạng.

NHỮNG NGÀY CÙNG CÔNG TÁC VỚI ANH TRẦN TỬ BÌNH


                                                                   Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Lê Chiêu
Anh Thy

Một chiều tháng 8 năm 2003, hai anh em tôi tìm đến nhà  Thiếu tướng Lê Chiêu. Ông sống ở Khu tập thể quân đội 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Bấm chuông hồi lâu mà không thấy ai ra mở cửa. Đánh liều đẩy cửa vào thì thấy phòng khách vắng bóng người; tận phòng trong, thấy một cụ già nằm trên giường. Hai anh em chào to:
- Chào chú Lê Chiêu.
- Ai đấy? – Ông hỏi.
- Chúng cháu là con bố Trần Tử Bình, lại thăm chú đây.
- Thế à? – Ông mệt mỏi mở mắt và cố gượng dậy.
Câu chuyện giữa chúng tôi được bắt đầu... Khi gợi lại chuyện cũ, trí nhớ của ông dần được hồi phục. Ông chậm rãi kể lại…

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Tháng 8 – Nhớ về Cha (Trần Đình Ngân)

CHA -  Người lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền
                             đạn đã lên nòng nhưng súng không cần nổ                          
                                                          cả máu cũng một giọt không giỏ,
CHA  - Người lính trận, Tổng Thanh tra
                                      Người quyết giữ mọi sự công bằng                           
CHA – Một vị tướng lĩnh, một nhà ngoại giao
                                      Người vun đắp cho cây Hữu nghị, Hoà bình
Tháng Tám, bên bàn thờ Mẹ Cha,
                                       con cháu quây quần
                                                          dâng nước trắng và hoa…

Chú Đỗ Trình với kỉ niệm về cha


TRƯỜNG LỤC QUÂN VIỆT NAM VỚI CHÍNH UỶ TRẦN TỬ BÌNH

Trung tướng Đỗ Trình[1]



Chú Đỗ Trình đọc tham luận.
            Tôi cùng sống và công tác với anh Trần Tử Bình trong khoảng 5 năm, từ năm 1950 đến 1955, ở Trường Lục quân Việt Nam, từ khóa 5 đến khóa 9. Lúc đó, anh Trần Tử Bình là Chính uỷ, bí thư Đảng uỷ, còn tôi là đảng uỷ viên, Chủ nhiệm Huấn luyện nhà trường.

Trong công tác và sinh hoạt, anh Trần Tử Bình có nhiều phẩm chất nổi bật. Trước hết, đó là tinh thần đoàn kết, hợp tác: đoàn kết trong nội bộ Đảng uỷ, đoàn kết giữa lãnh đạo và cán bộ cấp dưới, đặc biệt là đoàn kết giữa các đồng chí Việt Nam với các cố vấn Trung Quốc. Thời gian đó, Trường Lục quân Việt Nam đóng quân ở Trung Quốc, lúc đầu ở Côn Minh (Vân Nam), sau về Quế Lâm (Quảng Tây). Trong trường, ở cơ quan Hiệu bộ và các tiểu đoàn học viên đều có cố vấn Trung Quốc. Chính sự chăm lo, tăng cường đoàn kết của đồng chí chính uỷ và của Đảng uỷ với các đồng chí cố vấn đã động viên họ tích cực, hết lòng truyền đạt kinh nghiệm và kiến thức cho các đồng chí Việt Nam.

Tấm ảnh chụp tại Đại hội 2

CHUYỆN VỀ TẤM ẢNH KỶ NIỆM CHỤP TẠI
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ II[1]

           Kháng Chiến – Kiến Quốc



Trong một dịp trở ra Hà Nội, chúng tôi được Bùi Việt Sơn (con trai lão đồng chí Bùi Lâm) tặng một tấm ảnh quý với chú thích phía sau: “Tặng anh tấm ảnh của các cụ nhà mình gặp lại nhau trong Đại hội II, tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đầu năm 1951”. Chúng tôi bồi hồi tưởng nhớ tới từng người trong bức ảnh...

Từ bên trái qua, người mặc áo trắng, đầu đội mũ nồi, đứng đầu là cha chúng tôi – ông Trần Tử Bình. Trong Đại hội này, ông là đại biểu quân đội. Đứng cạnh ông là đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, quê ở Nam Lợi, huyện Nam Trực, Nam Định. Những năm kháng chiến chống Pháp, đồng chí từng là Chính uỷ Khu 8. Trong Đại hội, đồng chí là đại biểu Nam Bộ, sau này là trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Trung ương.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Bức ảnh tư liệu quý

Đầu năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, Hồ Chủ tịch đã kí quyết định tấn phong 1 đại tướng, 1 trung tướng và 9 thiếu tướng. Sau đó Người kí rải rác 1 số quyết định. Đến năm 1958 khi xây dựng QĐ lên chính quy hiện đại, Bác lại kí quyết định phong nhiều tướng lĩnh.
Tại Phủ Chủ tịch, các tướng lĩnh cũ và mới cùng các cán bộ cấp Cục (đại tá) đã ra mắt Trung ương Đảng và Chính phủ. Đây là ảnh tư liệu quý về hôm đó.

Khi đó ông Nguyễn Chí Thanh (đứnh cạnh Bác) vẫn chưa được phong đại tướng.
Hàng thứ 2, từ trái: Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng, Thiếu tướng Trần Tử Bình...
(Các tướng lĩnh cũ - mặc quân phục sẫm; các tướng lĩnh mới - quân phục sáng).