Gia đình năm 1960 ở Hà Nội

Gia đình năm 1960 ở Hà Nội
Gia đình chụp kỉ niệm ở Hiệu ảnh Quốc tế Bờ Hồ, Hà Nội, năm 1960. (Từ trái qua, hàng trước: Hữu Nghị, Thành Công, Kiến Quốc, Hạnh Phúc. Hàng sau: Kháng Chiến, Cha, Thắng Lợi, Yên Hồng và Mẹ bế Việt Trung).

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Cội nguồn


CỘI NGUỒN

Trần Kháng Chiến
Hè 1958 khi 12 tuổi, lần đầu tôi được theo cha về thăm quê nội. Cha để xe con bên cầu Sắt trên quốc lộ Phủ Lý – Nam Định, dẫn tôi theo đường đê đi bộ vòng vèo đến chục cây số mới về đến thôn Đồng Chuối, xã Tiêu Động Thượng, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam - nơi cụ tổ họ Phạm nhà tôi từ Thanh Hoá ra lập nghiệp trên mảnh đất đồng chiêm trũng này.


Tôi thấy làng tôi có luỹ tre xanh bao quanh như bao làng xóm của đồng bằng Bắc Bộ. Trong làng toàn nhà tranh vách đất, đường làng toàn đường đất. Cha tôi chỉ một ngôi nhà nhỏ bé vách đất, mái lợp rạ, cửa che bằng liếp, đứng hiu quạnh bên lũy tre và cảm động nói: “Đó là nhà cuả ông bà nội con!”. Tài sản nhỏ nhoi ấy không khác gì một túp lều. Chính tại nơi ấy, vào một ngày của tháng 5 năm 1907, ông bà nội tôi là Phê-rô Phạm Văn Cống và Ma-ria Nguyễn thị Quế đã sinh ra cha tôi là Phê-rô Phạm Văn Phu. Như mọi giáo dân khác trong làng, không phân biệt giầu, nghèo, cha tôi - một con chiên bé nhỏ cuả Chúa - được cha xứ làm lễ rửa tội, được ghi danh vào sổ của Nhà thờ (đến nay vẫn còn lưu). Không có nhiều thời gian để ngắm kỹ ngôi nhà cuả ông bà nội, song hình ảnh mái tranh nhỏ bên lũy tre xanh, nơi cha tôi cất tiếng khóc chào đời cứ theo tôi mãi suốt cuộc đời.

Lễ tưởng niệm...


LỄ TƯỞNG NIỆM ĐỒNG CHÍ TRẦN TỬ BÌNH

Trần Thắng Lợi
Nhân dịp kỉ niệm 59 năm Cách mạng Tháng Tám 1945, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức lễ tưởng niệm lão đồng chí Trần Tử Bình vào sáng thứ Bảy, ngày 21 tháng 8 năm 2004, tại Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam (Hà Nội). Hơn 250 khách mời đã đến dự.


Đồng chí Tăng Văn Phả - Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam, đồng chí Nguyễn Xuất - uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Phú Thọ thay mặt cho các địa phương mà đồng chí Trần Tử Bình trên cương vị Xứ ủy viên Bắc Kỳ phụ trách xây dựng phong trào trong thời kì bí mật đã tới dự.

Bộ Quốc phòng nơi Thiếu tướng Trần Tử Bình, nguyên Phó bí thư Quân ủy, đã gắn bó, đóng góp nhiều công sức xây dựng, phát triển từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 4 năm 1959 có đại biểu của nhiều cơ quan, đơn vị: Trung tướng Phùng Khắc Đăng - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, các thiếu tướng Ngọc Anh, Vũ Ngọc Diệp - Phó chánh tra Bộ Quốc phòng, đại diện Cục Cán bộ. Trường sỹ quan lục quân I, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang, đơn vị kế thừa truyền thống của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với sự có mặt của Đại tá Nguyễn Văn Soạn, Chủ nhiệm Chính trị.

Đại diện Tổng Công ty cao su Việt Nam, thay mặt cho hơn 100.000 công nhân cao su, những người đang kế thừa truyền thống “Phú Riềng Đỏ” bất diệt, đang ngày đêm lao động, góp phần làm giầu Tổ quốc, đã có mặt.

Cu Zính con, đít nhôm của họ Hồ Quỳnh Lưu

Đầy tuần tuổi, bố Zính đã gửi ảnh "Bộ trưởng Giao thông tương lai" Hồ Nghĩa Dũng cho các ông các bà, chú bác, anh chị em. Mong cháu chóng lớn và "làm ăn không thối" như bộ trưởng cũ cùng tên.

Mới ngủ dậy à, cháu?


Mếu.


Ngáp rõ to.


Có chim đàng hoàng. Bọ Sắc mừng?


Ngủ tiếp đi!


Đẹp trai xứ Nghệ.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Câu đối


KÍNH TẶNG ANH CHỊ ĐÔI CÂU ĐỐI

Giáo sư Vũ Khiêu
Kính thưa các bậc lão thành cách mạng!
Kính thưa các đồng chí và các bạn!
Tôi xin được phép nói lên tình cảm của tôi với hai đồng Trần Tử Bình và Nguyễn Thị Hưng - hai người mà tôi có may mắn được gần gũi và quý mến đã từ lâu, thông qua đôi câu đối.
Trong thời buổi thực dân Pháp dày xéo đất nước ta, dân ta chịu bao đau khổ, đói rét thì anh Trần Tử Bình và chị Nguyễn Thị Hưng đã sớm giác ngộ cách mạng. Vì vậy mà tôi đã dùng hình tượng hai anh chị dùng hai thanh kiếm “thư kiếm và hùng kiếm” (một thanh dùng cho nữ và một thanh dùng cho nam), đi cứu nước.
Anh Trần Tử Bình hoạt động cách mạng rất kiên cường và anh dũng, trong kháng chiến cũng như trong hoà bình, trên mặt trận chính trị cũng như mặt trận quân sự, giỏi về nội trị cũng như về ngoại giao… Suốt đời anh nêu một tấm gương trung dũng vì dân, vì nước. Anh là người thực hiện rất xuất sắc lời dạy của Bác Hồ “Trung với Nước, Hiếu với Dân”. Câu trên gắn với nghĩa “Trung”, câu dưới liền với nghĩa “Hiếu”. Vậy là,

Tuốt kiếm thư hùng đi cứu nước
Suốt đời trung dũng chỉ vì dân
Xin cám ơn các quý vị!



Tâm sự của chú Hà Ân

KỶ NIỆM KHI VIẾT VỀ CUỘC ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN ĐỒN ĐIỀN CAO SU PHÚ RIỀNG

Chú Hà Ãn đọc tham luận.

Nhà sử học Hà Ân
Hòa bình lập lại sau hội nghị Giơ-ne-vơ, miền Bắc bước vào xây dựng sau chiến tranh. Có nhiều công việc mà từ nay mới bắt đầu thực hiện. Bấy giờ những kinh nghiệm đấu tranh của nhiều cán bộ lão thành cần được nghiên cứu thấu đáo để bổ sung cho công tác xây dựng Đảng. Nhưng các đồng chí có quá trình hoạt động thường học không cao, việc tự viết lấy hồi kí cho mình bị hạn chế nên các nhà xuất bản lúc bấy giờ thường có ý kiến “một người kể, một người viết”.


Một kỷ niệm khó quên


MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

Phan Vĩnh Đôn kể


            Vốn là một học viên Trường Lục quân Việt Nam, hoà bình lập lại, tôi được chuyển ngành về công tác tại Tổng cục Thể dục - Thể thao. Lần đó, tôi được giao nhiệm vụ phụ trách Đội tuyển điền kinh Trung ương sang tập huấn và thi đấu tại Bắc Kinh (Trung Quốc).

            Các vận động viên của ta còn rất trẻ mới 19-20 tuổi, lần đầu tiên được ra nước ngoài luyện tập và thi đấu nên không khỏi bỡ ngỡ, từ việc ăn ở, đi lại cho đến sân bãi, luyện tập. Trong đoàn có Hoàng Vĩnh Giang là vận động viên nhảy cao đầy triển vọng, sau này là Giám đốc Sở Thể dục – Thể thao Hà Nội. Sang nước bạn đúng những tháng cuối năm, thời tiết đã vào đông nên ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và điều kiện luyện tập. Đây cũng là lần đầu tiên anh em được tập điền kinh trong sân có mái che. Biết khó khăn của đoàn, Đại sứ Trần Tử Bình rất quan tâm. Ông giao nhiệm vụ cho một tùy viên theo dõi, hễ có khó khăn gì được giải quyết ngay.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

Nỗi nhớ Hồng Hà


 



NỖI NHỚ HỒNG HÀ[1]
Trần Kiếm Qua[2]

            Việt Nam là Tổ quốc của Hồng Thuỷ - Nguyễn Sơn và cũng là Tổ quốc thứ hai của các con Trung Quốc của ông. Gia đình chúng tôi có mối tình thân không thể gì chia cắt được với nhân dân Việt Nam.
            Năm 1962, sáu năm sau ngày Hồng Thuỷ tạ thế, cháu Tiểu Phong đang học cấp III ở trường Trung học số 4 Bắc Kinh. Để hiểu hơn về người cha thân yêu của mình, Tiểu Phong đã viết một bức thư gửi đồng chí Trần Tử Bình, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc.

Có chuyện về cụ Bình Chính ủy

Mời vào đây, nghe em Tuấn, con chú Trung học viên D5 Công binh (khóa 7 1952) kể!

Trồng cây trên đường Trần Tử Bình ở HN

Nhân dịp 19/8/2008, gia đình biết tin Tp HN đặt tên đường TRẦN TỬ BÌNH cho con phố nối đường Hoàng Quốc Việt và .... Chiều ấy, anh Hà Trọng Tuyên (con rể bác Nguyễn Sơn) gọi điện báo tin: họ gắn biển rồi. Kiến Quốc phi xe lên ngay và chụp bức ảnh đầu tiên.

Và gia đình thống nhất trồng cây ở đầu phố để ghi nhận sự việc này. Theo ý kiến Việt Trung, chọn cây bồ đề ở sân nhà 99 (chim ăn quả và thải ra hạt, cây mọc lên). Ý tưởng quá hay. Cây cao đến 3m, phải cho nghiêng trong xe. Hôm đó có Tuấn Câm, nhà báo Duy Hiển (ANTG) cùng bạn bè Học viện KTQS (Bính, Giang Mù, Quý, Giáo, Thái...). Đến nơi đã thấy anh Tuyên mang xẻng cuốc, bình tưới đứng chờ. Đúng dịp này mẹ con nhà Phúc đang về nước. Thật đông, vui.
Khi ở Cung Văn hóa đang tổ chức lễ kỉ niệm Tổng khởi nghĩa 19/8 thì gia đình cùng bạn bè đang hạ cây, lấp đất, tưới tắm. Biển "Cây bồ đề gia đình Thiếu tướng Trần Tử Bình kính tặng" được gắn ngang thân.
Chị bán hàng nước ngay đầu phố được giao nhiệm vụ chăm sóc mỗi ngày: "Ông sẽ phù hộ cho chị ăn nên làm gia". (Mẹ Minh không quên gửi chị ít tiền). Cổng trường Cao đẳng Mẫu giáo TW sát đầu đường, hàng năm ông Bình sẽ chứng kiến học trò lứa con cháu ra trường, góp phần vào sự nghiệp "trồng người" của đất nước.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Bà Tâm những ngày cuối

Quãng 2001, Mý và Bồ Nông ra HN, gặp được bà. Ngày ấy bà lẫn rồi. Lắm hôm cứ nằm ở trong phòng không ra. Mẹ Minh mang cơm vào cho bà thì bà giỗi: "Hôm nay tôi mệt, không làm được gì thì không ăn" rồi quay mặt vào tường. Người già đúng y như con trẻ. Bà có thói quen sáng nào cũng quét quáy suốt từ trong nhà ra tận cổng. Chả thế sân nhà chả có tí rác nào.
Hôm nào khỏe, bà ra hiên ngồi. Quanh bà là nong nia phơi thuốc của mẹ Minh. Hai cô cháu gái chơi với bà và ba ghi lại được hình ảnh này.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Blog TRẦN ĐỘ TÁC PHẨM đã link với trang của chúng ta

Được gia đình tặng bộ 3 "Trần Độ - Tác phẩm", nay lại cung cấp thêm blog này. Chúng tôi, hàng xóm 99 Trần Hưng Đạo, rất cảm động và coi đó chính là "những gì của chính mình". Xin cảm ơn 4 anh em nhà chú Độ, cô Hằng! Đó là những gì chúng ta tri ân thế hệ đi trước.
Blog "Trandotacpham" đã được link vào Danh sách blog. Mời cùng xem!

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Cha có mặt trong bức ảnh quý này!

Mời sang Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn!

Bút tích của cụ Hoàng Đạo Thúy về Lục quân và ông Bình

Đây là photo các bản nháp viết tay của cụ Thúy mà gia đình còn lưu giữ. Nhân chuyến lên Lục quân trao tặng tượng đồng của ông Bình cho nhà trường, anh Tạ Quang Vinh (cháu ngoại cụ Thúy) đã trao cho gia đình ta mấy tư liệu này. Trong đó viết rất mộc mạc, chân phương về quan hệ đồng chí, đồng nghiệp khi cả 2 cùng công tác tại nhà trường.
(Để xem rõ hơn, có thể click vào ảnh cho lớn hơn).

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

NHỚ VỀ MỘT TÌNH BẠN CHÂN THÀNH

Trần Thành Công

Tình bạn, tình đồng chí của những cán bộ cách mạng lão thành thế hệ thứ nhất, thứ hai thật thân tình. Trong đó có quan hệ giữa gia đình tôi với gia đình bác Lý Ban.

Bác Lý Ban tên thật là Bùi Công Quan, sinh năm 1912 tại Long Hòa, Cần Đước, tỉnh Long An. Năm 1927 khi đang học trung học tại Sài Gòn, bác được thầy giáo Phạm Văn Đồng giác ngộ và giới thiệu kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Bác tuyên truyền cách mạng trong học sinh, sinh viên người Việt và người Hoa. Năm 1930, bác được kết nạp Đảng. Cuối 1931, sau hai lần bị thực dân Pháp bắt nhưng không có chứng cứ nên bác bị đưa về quản thúc ở quê nhà. Giữa năm 1932, bác trốn lên Sài Gòn bắt liên lạc với Đảng nhưng không thành. Ở lại rất nguy hiểm, thông qua những người bạn Hoa kiều ở Chợ Lớn, bác xuống một chiếc tầu buôn lánh nạn sang Hồng Kông.

Kỷ niệm về hai vị đại sứ từng tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Nội

Phạm Ngạc

Tôi có vinh dự được làm phiên dịch tiếng Anh cho hai vị đại sứ Nguyễn Khang và Trần Tử Bình. Hai người từng tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Hà Nội, tháng 8 năm 1945.

Năm 1957, đồng chí Nguyễn Khang được cử làm Đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc. Lúc đó, Việt Nam mới có vài đại sứ ở nước ngoài. Vị trí đại sứ ở Liên Xô và Trung Quốc quan trọng bậc nhất, phải là Uỷ viên Trung ương Đảng. Đồng chí Nguyễn Khang được trong nước và quốc tế kính trọng nhưng đồng chí thường tâm sự với anh em là không quen công tác ngoại giao nên không đóng góp được như ý muốn. Đồng chí đề đạt nguyện vọng với Trung ương để được về công tác trong nước. Hai năm sau anh được trở về môi trường quen thuộc và tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp cách mạng.