Gia đình năm 1960 ở Hà Nội

Gia đình năm 1960 ở Hà Nội
Gia đình chụp kỉ niệm ở Hiệu ảnh Quốc tế Bờ Hồ, Hà Nội, năm 1960. (Từ trái qua, hàng trước: Hữu Nghị, Thành Công, Kiến Quốc, Hạnh Phúc. Hàng sau: Kháng Chiến, Cha, Thắng Lợi, Yên Hồng và Mẹ bế Việt Trung).
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tang lễ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tang lễ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Chiều mùng 3 Tết 1967

Xin ghi lại những hình ảnh tang lễ cha.
Toàn cảnh tang lễ chiều 3 Tết.

Chú Đạo, chú Lợi bạn thân luôn bên cạnh gia đình.

Bác Hồ đến viếng.

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Ngày cha mất

Cha được đưa ra. Cô Hiền, chị Mỹ, chị Hồng đã có mặt. Anh Chiến vừa về kịp.
Tháng giêng 1967, cha xuống công tác các tỉnh phía nam TQ. Theo hẹn sẽ qua Quảng Tây và xuống Quế Lâm. Với bọn trẻ nhà ta học trường Trỗi thì đây là niềm vui và niềm tự hào vì cha rất quan tâm đến trường. Ngày đóng quân ở An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái cha đã gửi kèn ac-mô-ni-ca, đèn bão tặng trường. Rồi cha là người tham gia kí Hiệp định thư đưa trường Trỗi và các trường Bé, Dân tộc TW cùng Võ Thị Sáu sơ tán sang Quế Lâm.
(Ở nhà vẫn còn lưu giữ những kế hoạch cha xuống làm việc ở Nam Ninh, Quảng Châu...).

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Kỷ niệm với bác Mẫn (KC)

Bác Mẫn là người chụp những ảnh lễ tang cha tại Câu lạc bộ Quân nhân  chiều tối ngày 3 Tết  1967. Cha mất  vào ngày 3 Tết, Văn phòng Trung ương bấn lên vì không tìm đâu được thơ ảnh tin cậy. (Theo  dự tính sẽ có những vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước dự lễ tang. Lúc đó đang chiến tranh, việc đảo đảm an ninh chính trị  luôn được đề cao). Mẹ  dù rất đau buồn nhưng còn minh mẫn nhắc bác Mẫn sang giúp cho việc chụp ảnh lễ tang, để có ảnh kỷ niệm cho gia đình.  Ban tổ chức chấp thuận ngay. Bác Mẫn là  người chụp ảnh duy nhất trong lễ tang thời chiến ngày đó.
Chúng ta hôm nay khi ngắm lại các bức ảnh  lễ tang, dù không nhiều, nhưng có các hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn, bác Phạm Văn Đồng  và nhiều bạn bè của cha mẹ tham gia tiễn đưa cha tại lễ tang. Chúng  ta cùng thế hệ  con cháu  phải nhớ người chụp được những bức ảnh quý đó là bác Mẫn.
Bác Mẫn tham gia hoạt động cách mạng, bị bắt, bị đưa ra toà. Người cãi cho bác  tại toà án là Luật sư Trịnh Đình Thảo. Khi ông Thảo ra Hà  Nôi, hai người rất mừng gặp lại nhau.  Bác Mẫn sau khi bị kết án, bị đày ra Côn Đảo. Trong kháng chiến, bác tham gia công tác tuyên truyền tại Nam bộ.
Năm 1971 khi anh cùng mẹ bay từ  Bắc Kinh về Hà Nôi, khi đến sân bay Trường Sa thì gặp bác Mẫn cùng đoàn cán bộ lão thành đi nghỉ CHDC Đức trên đường về nước. Mẹ rất mừng khi được gặp bác.
Sau này anh có nhiều lần cùng mẹ đến thăm  hai bác tại tầng một của ngôi nhà góc Phan Bội Châu cắt Lý Thường Kiệt như Phúc nhớ. Anh  được nghe bác  kể  rằng, ngày xưa bác gái có nhà hộ sinh rất nổi tiếng tại Sài Gòn. Trong Nam cho đến ngày thống nhất, hai bác còn  nhiều người thân.
Sau 30-4 -1975, hai bác vào Sài Gòn. Trước khi  chuyển vào Nam, bác Mẫn chuyển  lại cho mẹ những phim chụp lễ tang cha mà bác gìn giữ, bảo quản cẩn thận từ tháng 2-1967 đến 1975.
Những dòng của  Phúc  nhớ  về bác Mẫn  rất có giá trị đối với chúng ta.

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

Bà nội đi sau cha 2 năm



Ông bà lên HN năm 1959.
Cha mất ngày mùng 3 Tết Đinh Mùi (11/2/1967). Sợ bà biết sẽ ốm, chết theo nên mẹ yêu cầu cô Hiền và cả nhà ở quê không được báo tin này cho bà. 
Tết năm 1969, thấy các cháu từ HN về chúc tết, bà có hỏi: “Sao Tết này không thấy bố chúng mày về?”. Các cháu phải bảo, cha cháu bận, đang ở Bắc Kinh, chưa về được.
Phúc nhớ lại: Đêm hôm trước, Phúc nằm mơ thấy bà về, bắt tháo cái ảnh của cha trên bàn thờ xuống, dán vào người Phúc. Vậy là sáng hôm sau có người vào Hà Đông sớm, báo bà đi rồi. 
Về đến Phúc Tá, cô Hiền kể, thấy bà yếu lắm rồi, cô ghé vào tai bà: "Bà ơi, anh Bình đi rồi". Chả hiểu bà có nghe thấy mà thấy đuôi mắt có giọt nước trào ra. Thế rồi bà đi.
Vậy là bà nội mất sau cha đúng 2 năm, vào mùng 5 Tết Kỷ Dậu (20/2/1969), thọ 86 tuổi. 

Thư chia buồn của bác Trường Chinh.
Ông nội mất, chồng mất rồi bà nội mất, trong 3 năm (1966, 67, 69) - mẹ có 3 cái tang. Cũng năm đó mẹ phát bệnh ung thư và phải sang Bắc Kinh điều trị. Ngày bà đi, mẹ tôi đang ở Bắc Kinh, không về được, các chú các bác - bạn cha mẹ lại xúm tay vào. Bác Trường Chinh biết tin đã gửi thiếp đến chia buồn.

Đám tang của ông nội


Lễ tang ông ngay trên sân nhà địa chủ đuợc chia sau hoà bình.
Năm 1966, chiến tranh phá hoại càng mở rộng ra phía Bắc. Cơ quan, nhà máy, trường học ở đô thị phải sơ tán về nông thôn. Anh Chiến đóng quân ở Quảng Yên; chị Hồng sơ tán theo trường Ngoại giao Ngoại thương về Phổ Yên;  Thắng Lợi, Kiến Quốc, Thành Công đang học trường Trỗi, đóng quân trên rừng tận Đại Từ, Bắc Thái; chỉ có mấy em Nghị, Phúc, Trung sơ tán về Hà Đông với vợ chồng bác Tư Thủy, gần HN.
Từ Ân Thi, Huyện ủy báo lên cho mẹ: ông cụ thân sinh ra anh Trần Tử Bình đã mất. Đồng thời theo đường ngoại giao cũng báo sang cho cha ở Bắc Kinh. Việc tổ chức tang lễ gấp rút, không thể kéo dài. Vậy là chỉ có mẹ cùng 3 em Nghị, Phúc, Trung về Phúc Tá bằng xe Văn phòng TW.