Nơi lưu giữ những kỉ niệm của ông bà, cha mẹ, tới thế hệ con, cháu... và của từng gia đình nhỏ; Nơi trao đổi tâm tư, tình cảm, gìn giữ nề nếp, gia phong, truyền thống tốt đẹp của cha mẹ, gia đình.
Gia đình năm 1960 ở Hà Nội
Gia đình chụp kỉ niệm ở Hiệu ảnh Quốc tế Bờ Hồ, Hà Nội, năm 1960. (Từ trái qua, hàng trước: Hữu Nghị, Thành Công, Kiến Quốc, Hạnh Phúc. Hàng sau: Kháng Chiến, Cha, Thắng Lợi, Yên Hồng và Mẹ bế Việt Trung).
Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012
Ý kiến của ông Võ Văn Kiệt về việc xuất bản "Chuyện Tướng Độ"
Chú Trần Độ và ông Kiệt có quan hệ thân tình từ những năm ở chiến trường. 5 năm sau ngày mất của chú Độ (2002-2007), nhà văn Võ Bá Cường viết xong cuốn sách này và đi vận động 1 số cán bộ cao cấp ủng hộ việc Nxb Quân đội phát hành tác phẩm này. Ông Kiệt cũng là 1 địa chỉ. Và ông đã trả lời:
Bức thư gửi Trường PTTH Quang Trung, Đồng Xoài
Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 3
năm 2007
Kính gửi: Thầy Hiệu trưởng Trường
PTTH chuyên Quang Trung,
Thay mặt gia
đình Thiếu tướng Trần Tử Bình, nguyên Bí thư chi bộ Phú Riềng Đỏ năm 1930,
nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nước Việt Nam DCCH tại Nước CHND Trung Hoa
(1959-1967), xin gửi lời chào trân trọng đến thầy Hiệu trưởng và tập thể cán
bộ, giáo viên, học sinh nhà trường!
Ghi chép (KQ)
Chủ
nhật 29/10/2006. Về Ãn Thi, Hưng Yên, rủ Nam Hòa và Giang “mù” cùng đi. Đang triển khai việc xây dựng nhà trẻ mang tên cha tại Phúc Tá. Sau đó ra thăm ngôi
chùa vừa được xây lại có sự đóng góp của gia đình. Hai em Trung, Minh đã góp
mấy ngàn viên gạch lát bậc tam cấp cho chùa chính. Trưa ăn cơm với mấy em con
bà cô.
Chiều về đến thăm chú Vũ Thơ. Cô
chú rất mừng khi cầm cuốn sách trên tay. Chú kể lại một câu chuyện cảm động:
...
Quãng năm 1956-1957. Đang lang thang trên đường Bông Ruộm thì chú gặp một anh
bạn từng là cán bộ cấp trung đoàn thời kháng Pháp. Trông anh ta tiều tuỵ, thần
sắc bạc nhược. Hỏi ra thì biết gia đình bị “đội” quy là địa chủ. Rất biết anh
ta, chú đã nói: “Được rồi, tớ sẽ giúp cậu. Tổng Thanh tra Trần Tử Bình là thủ
trưởng của tớ từ ngày hoạt động bí mật ở Ninh Bình. Để tới nói với ông ấy”. Rồi
hai anh em chia tay. Nhìn theo cái bóng không hồn của bạn mà không cầm được
nước mắt.
Ngay chiều hôm ấy, chú đến tìm cha cháu. Vừa bắt tay ông, chú đã lớn
tiếng:
-
Các
anh làm thanh tra mà chả ra cái quái gì cả. Dân bị khổ, cán bộ bị oan sai mà
anh có biết không?- Cái thằng này hay thật, mới gặp đã mắng sa sả! – Cha cháu từ tốn nói - Có chuyện gì nói rõ xem nào?
Rồi chú kể hết về anh bạn bị oan trái. Nghe xong cha cháu nói:
- Bảo cậu ấy làm cái đơn gửi ngay Thanh tra Chính phủ, trình bày rõ sự việc. Nhớ là phải có xác nhận của đơn vị.
Ba tháng sau khi gửi Thanh tra đơn khiếu nại, chú gặp lại anh bạn. Anh vui vẻ báo tin: “Đâu vào đấy cả rồi. Tổ chức đã xác minh và minh oan cho tớ. Tớ lại về đơn vị cũ làm việc.”
Cha cháu là con người như thế đấy!
NHỚ CẬU PHẠM VĂN PHU
Trần Văn Thản
Tiêu
Động Thượng quê tôi có nhà thờ Thiên chúa giáo, xây dựng từ năm 1895. Cả thôn
có bốn dòng họ Trần, Nguyễn, Lê, Phạm nhưng họ Phạm là lớn nhất. Đây là thôn
công giáo toàn tòng. Tôi là cháu họ, gọi ông Phạm Văn Phu là cậu vì ông ngoại
chúng tôi - cụ Phạm Văn Giai là anh của cụ Phạm Văn Cống (bố đẻ ra ông Phu). Mẹ
chúng tôi - bà Phạm Thị Luộc là chị con bác ruột của ông Phu. Trong gia đình
tôi, chị Trần Thị Óng sinh năm 1928, còn tôi là em út (sinh năm 1947).
TÔI ĐƯỢC ÔNG TRẦN TỬ BÌNH CỨU SỐNG
Dương Văn Khái[1] kể
Anh Thy ghi
Tôi
sinh năm 1922 tại xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Khi còn nhỏ được
gia đình cho đi học, đến khi kháng chiến bùng nổ thì theo Việt Minh đánh Tây.
Năm 1953, trước khi kết thúc chiến tranh, tôi đã được tổ chức phân về công tác
tại an toàn khu ở Nghệ An, làm bí thư chi bộ nông trường Bà Triệu[2] (đơn
vị kinh tế của Đảng).
Tới thời kì chỉnh đốn sửa sai, năm 1956-1957, có lẽ vì có dính trí thức “tiểu tư sản” mà tôi bị “đội” quy là đảng viên Quốc dân đảng. Bị oan ức nhưng ngày đó dân ta có câu “nhất đội, nhì giời”, nên mọi sự thanh minh đều vô nghĩa. Tôi bị giam và chờ chết.
Tới thời kì chỉnh đốn sửa sai, năm 1956-1957, có lẽ vì có dính trí thức “tiểu tư sản” mà tôi bị “đội” quy là đảng viên Quốc dân đảng. Bị oan ức nhưng ngày đó dân ta có câu “nhất đội, nhì giời”, nên mọi sự thanh minh đều vô nghĩa. Tôi bị giam và chờ chết.
ANH BÌNH TRONG THỜI KÌ SỬA SAI
Nguyễn Trung[1]
| Chú Trung mắt không nhìn thấy gì nhưng kể như đọc từ sách. |
Quê
hương tôi ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Gia đình tôi là gia đình
điền chủ lớn. Sau năm 1940, phong trào cách mạng ở Phú Thọ được gây dựng lại do
các anh Đào Duy Kỳ hoạt động ở Thanh Ba, Phù Ninh; anh Trần Tử Bình ở Cổ Tiết,
Ba Triệu và anh Nguyễn Văn Thản, học sinh trường Bưởi, do bị lộ đã lánh về làm
gia sư trong gia đình tôi và vận động anh em tôi theo cách mạng. Sau này còn
một luồng cách mạng nữa là các anh Ngô Minh Loan, Bình Phương… vượt tù từ Nghĩa
Lộ, Sơn La về.
Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012
THIẾU TƯỚNG CHÍNH UỶ VÀ VIỆC XÂY DỰNG KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI
Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc[1]
Việc
xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam là một quá trình lâu dài và gian khổ, từ
không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh… Là một cựu học viên khóa 6 Trường
Lục quân Việt Nam - nhà trường chính quy đầu tiên đào tạo cán bộ quân đội của
Nhà nước Việt Nam non trẻ - tôi muốn ghi lại một kỷ niệm với Thiếu tướng Chính
uỷ Trần Tử Bình trong việc góp phần xây dựng kỷ luật quân đội cách mạng.
NHỮNG NGÀY CÙNG CÔNG TÁC VỚI ANH TRẦN TỬ BÌNH
Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Lê
Chiêu
Anh Thy
Một
chiều tháng 8 năm 2003, hai anh em tôi tìm đến nhà Thiếu tướng Lê Chiêu. Ông sống ở Khu tập thể
quân đội 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Bấm chuông hồi lâu mà không thấy ai ra mở cửa.
Đánh liều đẩy cửa vào thì thấy phòng khách vắng bóng người; tận phòng trong,
thấy một cụ già nằm trên giường. Hai anh em chào to:
-
Chào chú Lê Chiêu. - Ai đấy? – Ông hỏi.
- Chúng cháu là con bố Trần Tử Bình, lại thăm chú đây.
- Thế à? – Ông mệt mỏi mở mắt và cố gượng dậy.
Câu chuyện giữa chúng tôi được bắt đầu... Khi gợi lại chuyện cũ, trí nhớ của ông dần được hồi phục. Ông chậm rãi kể lại…
Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012
Tháng 8 – Nhớ về Cha (Trần Đình Ngân)
CHA - Người lãnh đạo khởi
nghĩa giành chính quyền
đạn đã lên nòng nhưng súng không cần nổ
cả máu cũng một giọt không giỏ,
CHA - Người lính trận, Tổng Thanh tra
Người quyết giữ mọi sự công bằng
CHA – Một vị tướng lĩnh, một nhà ngoại giao
Người vun đắp cho cây Hữu nghị, Hoà bình
Tháng Tám, bên bàn thờ Mẹ Cha,
con cháu quây quần
dâng nước trắng và hoa…
đạn đã lên nòng nhưng súng không cần nổ
cả máu cũng một giọt không giỏ,
CHA - Người lính trận, Tổng Thanh tra
Người quyết giữ mọi sự công bằng
CHA – Một vị tướng lĩnh, một nhà ngoại giao
Người vun đắp cho cây Hữu nghị, Hoà bình
Tháng Tám, bên bàn thờ Mẹ Cha,
con cháu quây quần
dâng nước trắng và hoa…
Chú Đỗ Trình với kỉ niệm về cha
TRƯỜNG LỤC QUÂN VIỆT NAM VỚI CHÍNH UỶ TRẦN TỬ BÌNH
Trung tướng Đỗ Trình[1]
| Chú Đỗ Trình đọc tham luận. |
Tôi
cùng sống và công tác với anh Trần Tử Bình trong khoảng 5 năm, từ năm 1950 đến
1955, ở Trường Lục quân Việt Nam, từ khóa 5 đến khóa 9. Lúc đó, anh Trần Tử
Bình là Chính uỷ, bí thư Đảng uỷ, còn tôi là đảng uỷ viên, Chủ nhiệm Huấn luyện
nhà trường.
Trong
công tác và sinh hoạt, anh Trần Tử Bình có nhiều phẩm chất nổi bật. Trước hết,
đó là tinh thần đoàn kết, hợp tác: đoàn kết trong nội bộ Đảng uỷ, đoàn kết giữa
lãnh đạo và cán bộ cấp dưới, đặc biệt là đoàn kết giữa các đồng chí Việt Nam
với các cố vấn Trung Quốc. Thời gian đó, Trường Lục quân Việt Nam đóng quân ở
Trung Quốc, lúc đầu ở Côn Minh (Vân Nam), sau về Quế Lâm (Quảng Tây). Trong
trường, ở cơ quan Hiệu bộ và các tiểu đoàn học viên đều có cố vấn Trung Quốc.
Chính sự chăm lo, tăng cường đoàn kết của đồng chí chính uỷ và của Đảng uỷ với
các đồng chí cố vấn đã động viên họ tích cực, hết lòng truyền đạt kinh nghiệm
và kiến thức cho các đồng chí Việt Nam.
Tấm ảnh chụp tại Đại hội 2
CHUYỆN VỀ TẤM ẢNH KỶ NIỆM CHỤP TẠI
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ II[1]
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ II[1]
Kháng Chiến
– Kiến Quốc
Trong
một dịp trở ra Hà Nội, chúng tôi được Bùi Việt Sơn (con trai lão đồng chí Bùi
Lâm) tặng một tấm ảnh quý với chú thích phía sau: “Tặng anh tấm ảnh của các cụ
nhà mình gặp lại nhau trong Đại hội II, tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đầu năm
1951”. Chúng tôi bồi hồi tưởng nhớ tới từng người trong bức ảnh...
Từ
bên trái qua, người mặc áo trắng, đầu đội mũ nồi, đứng đầu là cha chúng tôi –
ông Trần Tử Bình. Trong Đại hội này, ông là đại biểu quân đội. Đứng cạnh ông là
đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, quê ở Nam Lợi, huyện Nam Trực, Nam Định. Những năm
kháng chiến chống Pháp, đồng chí từng là Chính uỷ Khu 8. Trong Đại hội, đồng
chí là đại biểu Nam Bộ, sau này là trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Chủ
nhiệm Uỷ ban Thống nhất Trung ương.
Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012
Bức ảnh tư liệu quý
Đầu năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, Hồ Chủ tịch đã kí quyết định tấn phong 1 đại tướng, 1 trung tướng và 9 thiếu tướng. Sau đó Người kí rải rác 1 số quyết định. Đến năm 1958 khi xây dựng QĐ lên chính quy hiện đại, Bác lại kí quyết định phong nhiều tướng lĩnh.
Tại Phủ Chủ tịch, các tướng lĩnh cũ và mới cùng các cán bộ cấp Cục (đại tá) đã ra mắt Trung ương Đảng và Chính phủ. Đây là ảnh tư liệu quý về hôm đó.
Khi đó ông Nguyễn Chí Thanh (đứnh cạnh Bác) vẫn chưa được phong đại tướng.
Hàng thứ 2, từ trái: Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng, Thiếu tướng Trần Tử Bình...
(Các tướng lĩnh cũ - mặc quân phục sẫm; các tướng lĩnh mới - quân phục sáng).
Tại Phủ Chủ tịch, các tướng lĩnh cũ và mới cùng các cán bộ cấp Cục (đại tá) đã ra mắt Trung ương Đảng và Chính phủ. Đây là ảnh tư liệu quý về hôm đó.
Khi đó ông Nguyễn Chí Thanh (đứnh cạnh Bác) vẫn chưa được phong đại tướng.
Hàng thứ 2, từ trái: Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng, Thiếu tướng Trần Tử Bình...
(Các tướng lĩnh cũ - mặc quân phục sẫm; các tướng lĩnh mới - quân phục sáng).
Chuyến thăm quê Bác Hồ của Đại sứ Trung Quốc La Quý Ba
Chuyến thăm quê Bác Hồ của Đại sứ Trung
Quốc La Quý Ba
Kiến
Quốc - Duy Hiển (091.3542366)
| Lễ trình Quốc thư tại Chiến khu Việt Bắc, 1/9/1954. |
GẶP LẠI NHAU TRONG ĐẠI HỘI ĐẢNG II
Ghi theo hồi ức của đồng chí Hoàng Quốc Việt
Trần Kiến Quốc
Trần Kiến Quốc
| Ba người bạn chí cốt. |
Xin trân trọng giới thiệu tấm ảnh kỷ niệm, chụp trước tượng đài Tổ quốc ghi công tại Đại hội II, của ba lão đồng chí Phan Trọng Tuệ, Hoàng Quốc Việt và Trần Tử Bình.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt tên thật là Hạ Bá Cang sinh năm 1902 tại Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh, trong một gia đình làm thợ. Khi đang học trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng, đồng chí đã tham gia hoạt động. Bị đuổi học, đồng chí về hoạt động ở mỏ than Phấn Mễ (Thái Nguyên), mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh) rồi về Hải Phòng. Năm 1928, tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và được cử vào Nam Kỳ. Đầu năm 1930, trên đường ra Bắc dự hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thì đồng chí bị bắt. Kẻ địch tra tấn đồng chí đến què chân, kết án chung thân và đày biệt xứ ra Côn Đảo. Trong hội nghị hợp nhất, tuy vắng mặt nhưng vì uy tín cao nên đồng chí Hoàng Quốc Việt vẫn được bầu vào Trung ương. Năm 1936, mãn hạn tù, đồng chí về hoạt động ở Hà Nội. Tuy chân đi khập khiễng nhưng đồng chí thoắt ẩn thoắt hiện, kẻ địch không tài nào bắt được nên giặc Pháp gọi đồng chí là Cang “thọt”.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
